Vợ có được tự ý bán đất khi chồng mất không

Câu hỏi tư vấn: Mẹ tôi sinh năm 1952 nay đã hơn 60 tuổi muốn bán 1 công đất để chia cho các con số vốn làm ăn và phần còn lại dùng để thuốc than lúc về già. Mẹ tôi đã góa chồng trước năm 1975 do một lần ba tôi đi làm rẫy giẫm phải mìn nên chết không thấy xác. Bắt đầu từ đó mẹ tôi dẫn các chị em tôi đi sinh sống rất nhiều nơi. Do một lần bão lũ lớn đã làm hư một số giấy tờ trông đó có giấy khai tử của ba tôi. Vào năm 1986 mẹ tôi có xin làm công nhân cho nông trường và được nông trường cấp cho mẹ tôi 1 công đất có sẵn 1 căn nhà để giải quyết chỗ ở cho mẹ tôi. Nay mẹ tôi muốn bán mảnh đất trên .Vì trên hộ khẩu và trên giấy tờ đất không có tên của ba tôi. Vậy trong trường hợp của mẹ tôi không cần giấy khai tử của ba tôi mẹ tôi có thể ra công chứng ký giấy bán đất được không . Xin cảm ơn Luật sư.

Vợ có được tự ý bán đất khi chồng mất không
                                 Vợ có được tự ý bán đất khi chồng mất không

Luật sư tư vấn: Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban tư vấn – Văn Phòng Luật Sư An Việt – Đoàn luật sư thành phố Hà Nội. Với thắc mắc của bạn, VPLS An Việt xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

Theo như thông tin bạn cung cấp thì mảnh đất mà mẹ bạn được phân khi làm công nhân nông trường, lúc đó bố bạn đã mất theo quy định tại Điều 43 Luật hôn nhân gia đình năm 2014về Xác định tài sản riêng của vợ, chồng được quy định như sau:

“1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này.”

Theo như bạn nói thì thời điểm mẹ bạn nhận được mảnh đất này là lúc ba bạn đã mất và đã làm giấy khai tử cho ba bạn. Do hoàn cảnh khó khăn nên mẹ bạn đã được nông trường cấp cho mảnh đất để sinh sống, có thể xác định đây là mảnh đất mà nông trường tặng riêng cho mẹ bạn. Đồng thời bằng khoáng đất mang tên mẹ bạn, có sổ hộ khẩu thì mẹ bạn hoàn toàn có quyền định đoạt mảnh đất này theo đúng quy định của Luật Đất Đai về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tuy nhiên khi công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì mẹ bạn vẫn phải cung cấp giấy chứng tử của ba bạn và giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.

Căn cứ vào thông tin bạn cung cấp thì mẹ bạn đã làm mất giấy chứng tử của ba bạn. Như vậy, muốn công chứng hợp đồng chuyển nhượng thì mẹ bạn phải làm thủ tục xin cấp lại giấy chứng tử.

Căn cứ điều 24, Nghị định 123/2015/NĐ-CP quy định về điều kiện đăng ký lại khai sinh, kết hôn, khai tử như sau:

“1. Việc khai sinh, kết hôn, khai tử đã được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam trước ngày 01 tháng 01 năm 2016 nhưng Sổ hộ tịch và bản chính giấy tờ hộ tịch đều bị mất thì được đăng ký lại.

Người yêu cầu đăng ký lại khai sinh, kết hôn, khai tử có trách nhiệm nộp đầy đủ bản sao giấy tờ, tài liệu có nội dung liên quan đến việc đăng ký lại.

Việc đăng ký lại khai sinh, kết hôn chỉ được thực hiện nếu người yêu cầu đăng ký còn sống vào thời điểm tiếp nhận hồ sơ.”

Ba bạn mất trước ngày 01 tháng 01 năm 2016 vì vậy mẹ bạn hoàn toàn có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước cấp lại giấy chứng tử cho ba bạn. Trước khi mẹ bạn đăng ký khai tử cho ba bạn ở xã nào thì phải về xã đó để xin cấp lại theo đúng quy định tại khoản 2, điều 25, Nghị định 123/2015/NĐ-CP.

Về thủ tục và hồ sơ đăng ký lại giấy khai tử được quy định tại điều 28 Nghị định 123/2015/NĐ-CP như sau:

“1. Hồ sơ đăng ký lại khai tử gồm các giấy tờ sau đây:

a) Tờ khai theo mẫu quy định;

b) Bản sao Giấy chứng tử trước đây được cấp hợp lệ. Nếu không có bản sao Giấy chứng tử hợp lệ thì nộp bản sao hồ sơ, giấy tờ liên quan có nội dung chứng minh sự kiện chết.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ, công chức tư pháp – hộ tịch kiểm tra hồ sơ. Nếu xét thấy các thông tin là đầy đủ, chính xác và việc đăng ký lại khai tử là đúng pháp luật thì báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ký cấp bản chính trích lục hộ tịch cho người có yêu cầu; ghi nội dung đăng ký lại khai tử vào Sổ hộ tịch, cùng người yêu cầu khai tử ký, ghi rõ họ tên vào Sổ hộ tịch.

Trên đây là phần nội dung tư vấn của Ban tư vấn – Văn Phòng Luật Sư An Việt – Đoàn luật sư thành phố Hà Nội về nội dung mà bạn hỏi. Nếu còn vấn đề vướng mắc, chưa rõ cần luật sư giải đáp tư vấn thêm, bạn vui lòng trực tiếp đến văn phòng hoặc Điện thoại: 0982 205 385/ 0944 555 975. Để được giúp đỡ.

Trân trọng!